TÌNH CỜ GẶP MỘT CÂY THUỐC QUÝ GIỮA ĐẠI NGÀN

Rate this post

Từ một chuyến công tác vùng cao đến bài học về bảo tồn cây thuốc Việt Nam

Có những cây thuốc tôi biết qua sách vở.

Có những cây thuốc tôi biết trong giảng đường đại học.

Nhưng cũng có những cây thuốc mà đến hôm nay, sau hơn ba mươi năm, mỗi khi nhớ lại tôi vẫn thấy như vừa gặp hôm qua. Bởi lần đầu tiên nhìn thấy nó không phải trong phòng thí nghiệm hay trên trang sách, mà giữa một cánh rừng già nơi vùng cao.

Những năm còn công tác tại một huyện miền núi, ngoài công việc chuyên môn tại bệnh viện và phụ trách quản lý hoạt động của các trạm y tế xã, tôi còn thường xuyên dẫn các đoàn y, bác sĩ từ thành phố và nhiều địa phương khác lên khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo cho đồng bào vùng sâu, vùng xa.

Mỗi đợt công tác thường kéo dài gần mười ngày.

Đường lên đã vất vả thì đường về cũng chẳng dễ dàng hơn. Xe chỉ đi được một đoạn, còn lại phải men theo những con đường đất, vượt những triền dốc đá cheo leo rồi băng qua những cánh rừng già trước khi đến được trạm y tế gần nhất nghỉ chân.

Chiều hôm ấy, khi mặt trời đã bắt đầu khuất sau dãy núi, cả đoàn ai cũng cố gắng đi thật nhanh để ra khỏi rừng trước khi trời tối.

Đúng lúc đó, chúng tôi gặp một nhóm người từ miền xuôi lên làm ăn trên vùng cao đang trên đường trở về.

Bất chợt, cả nhóm dừng lại bên vệ đường. Họ nhanh tay nhổ và hái một loài cây mọc thành từng đám dưới tán rừng. Điều khiến tôi chú ý là những chiếc lá rất đặc biệt: mặt trên xanh thẫm, bóng mượt, còn mặt dưới phủ một màu tím đỏ như nhung.

Tò mò, tôi bước lại hỏi:

  • Cây này là cây gì vậy?

Một người trong nhóm trả lời:

  • Cây Tía nhung.

Tôi hỏi tiếp:

  • Dùng để làm gì?

Ông đáp ngay:

  • Người ta thu mua nhiều lắm. Nghe nói chữa ung thư dạ dày rất tốt.

Câu trả lời ấy khiến tôi thật sự bất ngờ.

Là một dược sĩ, tôi đã được học khá nhiều về cây thuốc, nhưng cái tên Tía nhung thì hoàn toàn xa lạ. Còn công dụng chữa ung thư dạ dày lại càng khiến tôi bán tín bán nghi.

Tôi cúi xuống nhổ vài cây, cẩn thận mang về với ý định tìm hiểu cho rõ.

May mắn là trong hành trang của tôi ngày ấy luôn có một cuốn sách gần như không bao giờ rời khỏi chiếc ba lô. Đó là “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của cố Giáo sư Đỗ Tất Lợi.

Với thế hệ dược sĩ chúng tôi lúc bấy giờ, đây thực sự là cuốn sách gối đầu giường.

Tối hôm đó, dưới ánh đèn còn khá chập chờn của vùng núi, tôi mở từng trang sách để đối chiếu đặc điểm hình thái của loài cây vừa mang về.

Cuối cùng cũng tìm được câu trả lời.

Loài cây mà người dân gọi là Tía nhung thực chất chính là Lá khôi, còn có tên Khôi tía, Lá nhung.

Theo tài liệu của Giáo sư Đỗ Tất Lợi, đây là một vị thuốc quý có tác dụng hỗ trợ điều trị đau dạ dày, viêm loét dạ dày – tá tràng, giúp giảm tiết acid dịch vị và làm lành tổn thương niêm mạc dạ dày.

Riêng công dụng chữa ung thư dạ dày như lời truyền miệng của người dân thì thời điểm đó chưa có tài liệu khoa học nào khẳng định.

Dẫu vậy, tôi hiểu rằng mình vừa tình cờ gặp được một dược liệu rất có giá trị.

Ít ngày sau, tranh thủ một ngày nghỉ cuối tuần, tôi rủ thêm năm anh em trong khoa Dược quay lại khu rừng ấy.

Thời đó, đời sống của cán bộ còn rất nhiều khó khăn. Đồng lương tuy đủ để bám nghề nhưng vẫn còn nhiều thiếu thốn. Chúng tôi nghĩ rằng nếu thu hái được một ít Lá khôi bán cho cơ sở thu mua dược liệu thì cũng có thêm một khoản thu nhập để cải thiện cuộc sống.

Sáng sớm hôm ấy, sáu anh em háo hức lên đường.

Thế nhưng khi đến nơi…

Tất cả đều sững sờ.

Khoảng đất hôm trước chỉ còn trơ lại nền đất.

Cả đám Lá khôi đã bị nhổ sạch.

Chỉ còn sót lại duy nhất một cây non nhỏ bé.

Không ai nói với ai câu nào.

Nhìn khoảng đất trống ấy, tôi chợt hiểu rằng khi một cây thuốc trở nên có giá trị, nó cũng rất dễ trở thành đối tượng của những đợt khai thác ồ ạt.

Không muốn chuyến đi trở nên vô ích, tôi dẫn cả nhóm đi sâu hơn vào rừng.

Nhờ chút vốn hiểu biết về dược liệu, chúng tôi lần lượt tìm được Thiên niên kiện, Sa nhân và cả Giảo cổ lam.

Sau gần một ngày len lỏi giữa núi rừng, trên vai mỗi người đều gùi đầy dược liệu.

Mang về xuôi, phân loại rồi bán lại cho cơ sở thu mua khi còn tươi.

Số tiền thu được tuy không nhiều, nhưng cũng tương đương gần nửa tháng lương của mỗi người lúc bấy giờ.

Đó là một niềm vui nho nhỏ của những người làm nghề trong một giai đoạn còn rất nhiều khó khăn.

Nhưng điều đọng lại trong tôi không phải là số tiền ấy.

Mà chính là hình ảnh khoảng đất trống nơi đám Lá khôi từng mọc xanh tốt.

Có lẽ chính khoảng đất trống ấy đã gieo trong tôi một suy nghĩ mà đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị: cây thuốc quý không chỉ cần được biết đến, mà còn cần được gìn giữ

Lá khôi – vị thuốc quý của bệnh lý dạ dày

Hình ảnh cây Khôi nhung ( Nhung tía)
Hình ảnh cây Khôi nhung ( Nhung tía)

Lá khôi (Khôi tía, Lá nhung) Tên khoa học thường được ghi nhận trong các tài liệu kinh điển là Ardisia silvestris Pitard; hiện nay một số tài liệu phân loại thực vật có cập nhật về danh pháp, nhưng trong thực hành dược liệu ở Việt Nam vẫn thường gọi chung là Lá khôi hoặc Khôi tía.

Từ lâu đã được y học cổ truyền sử dụng trong điều trị các bệnh lý dạ dày. Bộ phận dùng chủ yếu là lá, thu hái quanh năm, có thể dùng tươi hoặc phơi, sấy khô.

Nhiều nghiên cứu cho thấy Lá khôi chứa các hợp chất như tanin, flavonoid, glycosid và một số hoạt chất có khả năng chống oxy hóa. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng ghi nhận dịch chiết Lá khôi có tác dụng giảm tiết acid dịch vị, bảo vệ niêm mạc dạ dày, hỗ trợ làm lành ổ viêm loét và góp phần giảm các triệu chứng đau, nóng rát vùng thượng vị.

Đó cũng là lý do vì sao Lá khôi đã được sử dụng từ lâu trong nhiều bài thuốc điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng.

Tuy nhiên, trong dân gian vẫn còn lưu truyền quan niệm cho rằng Lá khôi có thể chữa ung thư dạ dày.

Đến nay, mặc dù một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ghi nhận hoạt tính sinh học đáng chú ý của một số thành phần trong cây, nhưng chưa có đủ bằng chứng lâm sàng để khẳng định Lá khôi có thể điều trị ung thư dạ dày ở người.

Vì vậy, người bệnh cần hết sức thận trọng trước những lời quảng cáo quá mức về công dụng của dược liệu.

Cây thuốc quý có thể hỗ trợ điều trị, nhưng không nên bị “thần thánh hóa”.

Điều còn lại sau hơn ba mươi năm

Đã hơn ba mươi năm trôi qua kể từ chuyến đi ấy.

Có những cánh rừng đã đổi thay.

Có những loài cây thuốc ngày trước mọc rất nhiều thì hôm nay muốn tìm lại cũng không còn dễ nữa.

Thực tế, trong nhiều năm, không ít loài dược liệu quý ở nước ta đã bị khai thác theo kiểu “tận thu, tận diệt”. Khi giá dược liệu tăng cao, người ta sẵn sàng nhổ cả cây, đào cả rễ, miễn sao thu được nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất. Phần lớn dược liệu sau đó được thu gom qua các đầu mối thương lái, trong đó có không ít lô hàng được xuất sang thị trường nước ngoài. Lợi ích trước mắt đã vô tình làm cạn kiệt nhiều nguồn dược liệu tự nhiên vốn rất phong phú của Việt Nam.

Là người làm nghề Dược, tôi luôn cho rằng giá trị của một cây thuốc không chỉ nằm ở số tiền thu được sau một lần thu hái.

Giá trị lớn hơn chính là nguồn gen quý mà thiên nhiên đã ban tặng, là những hoạt chất vẫn đang chờ các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu, là cơ hội tạo ra những thuốc mới phục vụ chăm sóc sức khỏe con người.

Chính vì vậy, khai thác dược liệu phải luôn đi đôi với bảo tồn.

Cần quy hoạch các vùng dược liệu, phát triển mô hình nuôi trồng những loài cây có giá trị, hướng dẫn người dân thu hái đúng mùa, đúng kỹ thuật, chỉ lấy bộ phận cần dùng và giữ lại cây mẹ để tái sinh tự nhiên. Đó là con đường duy nhất để nguồn tài nguyên dược liệu được khai thác một cách bền vững.

Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với hàng nghìn loài cây làm thuốc. Đó không chỉ là tài sản của hôm nay mà còn là di sản dành cho các thế hệ mai sau.

Tôi luôn mong rằng các bạn sinh viên Y – Dược, những dược sĩ trẻ và cả những người yêu cây thuốc sẽ không chỉ học cách nhận biết một vị thuốc, biết công dụng của một loài cây, mà còn hiểu rằng mỗi cây thuốc quý đều cần được trân trọng, gìn giữ và phát triển.

Bởi giữ lại được một cây thuốc quý hôm nay cũng chính là giữ lại thêm một cơ hội chữa bệnh cho ngày mai./.

DsCKI  Nguyễn Quốc Trung

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *